Lịch sử cung thuật tại Việt Nam - qua tư liệu chữ viết (thời cận đại)

Lịch sử cung thuật tại Việt Nam - qua tư liệu chữ viết (thời cận đại)

/

A HISTORY OF VIETNAMESE ARCHERY- FROM WRITTEN ACCOUNTS

THỜI CẬN ĐẠI - EARLY MODERN AGE (See English below)

Bước vào thời Cận đại, khi mà hỏa khí đã chiếm lĩnh chiến trường, chế độ vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài vẫn rất coi trọng bắn cung. 1731, triều đình định ra thi Bác Cử, về cung thì “thi bắn trên ngựa và bắn bộ mỗi thứ 1 tao, bắn trên ngựa thì dựng 3 cái đích cách nhau 100 bước, phóng ngựa thật nhanh và bắn 3 phát, trúng đích được 2 tên là hạng ưu, trúng 1 tên cũng được. Bắn bộ thì dựng 1 cái đích cách 80 bước, bắn 5 phát tên, được 8, 9 tiếng “điêu” là hạng ưu” (1).

Với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, thậm chí cưỡi ngựa bắn cung còn là vấn đề sinh tồn. Là một lãnh thổ non trẻ với nhân lực thua kém nhiều lần so với Đàng Ngoài, Đàng Trong buộc phải sử dụng mọi đinh nam vào công việc quốc phòng chứ không chỉ tầng lớp chiến binh, bằng chứng là 1665, chúa Phúc Tần “sai văn thần và các quan lại tam ty tập phép cưỡi ngựa bắn cung, người nào trúng thì được thưởng, ngựa chậm và bắn lạc thì bị phạt” (2). Việc tập ở đây không chỉ chú trọng vào bắn trúng mà còn phải phi ngựa nhanh. Để phục vụ cho công tác luyện tập, chúa Phúc Tần đầu tư khá mạnh vào sân bãi “1681, sai sửa chữa đường quan từ Vạn Xuân đến quán Thanh Kệ, đắp đài ngự mã, ra lệnh cho các quan văn võ và mã đội tả hữu thời thường tập tành, do đó quân xạ kỵ đều tài giỏi cả” (3).

Sang thế kỷ 18, khi chiến sự lắng lại, cung thuật giảm bớt vai trò binh bị nhưng càng được chuộng với tư cách là 1 môn biểu diễn dành cho cả 2 ban văn võ “1701, mùa đông tháng 11, chúa đến thăm trường bắn, triệu các tướng và các nội ngoại đội trưởng cùng tam ty thi bắn cung, chọn người bắn giỏi làm giáp bô để luân lưu hầu diễn bắn” (4).

Sang thời Tây Sơn và Nguyễn thì hầu như không còn thấy dấu tích của cung thuật trong các bộ sử. Có lẽ lúc này vai trò vũ khí của cung tên đã thực sự cáo chung đối với chiến trường Việt Nam.

Tranh minh họa: một văn quan Đàng Trong bắn cung sau 1744 bởi Tree


EARLY MODERN AGE When the early modern age dawned, with firearms ruling the battlefield, Trinh princes of Tonkin (northern Vietnam) continued to hold archery in high regard. In 1731, the court specified the rule for military examination, “mounted archery: 3 targets are erected 100 steps apart, the horse must fully gallop, 2 hits count as excellent, 1 hit is a pass. Foot archery: the target is 80 steps away, and 5 arrows shall be shot” (1).

For their rival which is the lineage of the Nguyen lords in Cochinchina (the South), mounted archery was even considered a matter of life and death. For a young and sparsely populated country such as theirs, every able-bodied man was needed for war, evident from the decree issued in 1665 by duke Phuc Tan “all civilian officers are to train in mounted archery, who can make hits shall be awarded, who ride too slowly or miss shall be punished” (2). The curriculum focused not only on hitting the target but also speed. To facilitate such rigorous training, the duke spared no means, for instance in 1681, he repaired the road from Van Xuan hamlet to Thanh Ke station, erected a hippodrome and sent his military and civilian officials there to train regularly, thus his horse archers were anything but excellent (3).

Starting from the 18th century, conflict subsided and archery became less important in war, despite being a popular sport or performing art for military and civilian departments alike “in 1701, the 11th month, winter, his highness honored the archery range with his presence, and convened the officers and 3 administration departments for an archery tournament to select the most skilled people to alternately perform in archery ceremony” (4). In the Tay Son and Nguyen dynasties that followed, historical records were almost devoid of archery. Perhaps at this point the art had truly fell out of disuse.

Illustrated by Tree: an officer in Cochinchina (the South) practice archery in late 1744

  • (1) Lịch triều hiến chương tập 2, tr. 364
  • (2) Đại Nam Thực Lục, tr. 81
  • (3) Đại Nam Thực Lục, tr. 92
  • (4) Đại Nam Thực Lục, tr. 114