Dụng cụ cung thuật Việt Nam (phần 1)

Dụng cụ cung thuật Việt Nam (phần 1)

/

VIETNAMESE ARCHERY EQUIPMENT (See English below)

  1. CUNG (Phần 1) – từ văn bản

Sử liệu sớm nhất phải kể đến lá thư của tướng Hán Mã Viện: “Năm Kiến Vũ 19, Mã Viện dâng thư nói: từ Mi Linh ra Bôn Cổ, đánh Ích Châu (Tứ Xuyên ngày nay), thần đem hơn 1 vạn người Lạc Việt, quân lính quen chiến đấu hơn 2000, cung khỏe tên sắc, bắn mấy phát, tên bay ra như mưa, người bị trúng tên thì nhất định chết.” (1). Cần nói rõ rằng qua các tượng đồng để lại đến nay, các dân tộc bản địa Tứ Xuyên, mà tiêu biểu là vương quốc Điền Việt vào giai đoạn đó tự trang bị giáp đồng và giáp da gần như đại trà. Như vậy, người Lạc Việt vốn đã có truyền thống sử dụng cung có lực kéo lớn. Không rõ thời Bắc thuộc cung được sử dụng ở Giao Châu là loại gì, hình thù và uy lực thế nào do chưa khảo được tư liệu cũng như chưa có phát hiện khảo cổ để làm chứng cớ. Thời tự chủ, cung đã được nhắc tới thường xuyên từ đời Tiền Lê, đời Lý trong các pho sử, tuy nhiên chỉ đến Lê Trung Hưng trở về sau thì mới có hiện vật và ghi chép để tạm hiểu được các loại cung Việt Nam cùng cấu tạo. Từ điển thời Lê “Chỉ Nam Ngọc Âm giải nghĩa” trong phần Binh Khí có nhắc tới “Đại Đường” 大搪 và định nghĩa là “cung chàng”- hay cung trường/ cung dài (2). Không rõ cung dài bao nhiêu, là dạng cung đẽo từ một thanh tre/gỗ hay phức hợp nhiều vật liệu, có cấu tạo dạng bẻ ngược hay không. Lê Triều Hội Điển lại nhắc tới “cung sừng trăng xuân” (3). Cũng như trên, chỉ đơn thuần một cái tên được nhắc tới, còn hình dáng cấu tạo ra sao chúng ta chưa thể khảo được. Tuy nhiên người viết mạnh dạn phỏng đoán đó là dạng cung làm từ sừng trâu và gỗ/tre, khi ở trạng thái tự nhiên thì cánh cung tạo nên một hình chữ C như trăng khuyết (trăng sớm/ trăng xuân), khi căng dây thì người ta phải uốn cánh cung theo chiều ngược lại, giống như muốn trữ năng lượng trong lò xo thì cần nén lò xo ngược chiều với hình dạng tự nhiên của nó. Loại cung đó có thể thấy trong tranh thờ quận công Vũ Công Chấn tk17. Loại cung này là dạng thức cung phổ biến nhất thời cổ-trung- cận đại ở Cựu Thế giới. Một chứng cứ khác củng cố cho sự tồn tại của cung sừng thời Lê Trung Hưng là việc trong Lê Triều Hội Điển chép “các xứ và các chợ trong kinh đều phải nộp 100 tấm da trâu để may quân phục, đồng thời phải nộp kèm mỗi bộ da trâu 2 chiếc sừng” (4), có khả năng là để chế tạo cung sừng.

Tranh thờ quận công Vũ Công Chấn - Portrait of Duke Vu Cong Chan

  1. BOW (PART 1) – from textual records

The earliest record worth mentioning is the letter of the famous Eastern Han general Ma Yuan to emperor Guangwu: “in Jianwu 19th year, in the conquest of Yi Commandary (modern day Xichuan), I brought over 10,000 Lac Viet troops, of which 2000 were veterans, with strong bows and sharp arrows, within a few volleys, arrows loosed like a rain, anyone who was hit, met with certain death” (1). Since the peoples of Xichuan, particularly the Dianese, were accustomed to wearing leather and metal armors, it stands to reason that the Lac Viet’s bows were powerful enough to penetrate armors with sufficient effectiveness. During the time Vietnam was a Chinese dominion during the 1st century B.C. to 9th century A.D., there is yet any record of bow shape and size found. Bows of the native dynasties (10th century to date) are mentioned early on, but their descriptions are only available from the Restored Le dynasty (16th century) onward. The 17th century dictionary “Chỉ Nam Ngọc Âm giải nghĩa” speaks of a longbow type called “Đại Đường” 大搪 (literally means “big draw”) (2). Unfortunately the book doesn’t specify its length and construction. “Lê Triều Hội Điển”(compilation of Le dynasty’s protocols) briefly mentions a “cung sừng trăng xuân”(Spring Moon Horn bow) (3). As with “Đại Đường”, shape and size of the bow can hardly be deduced from its mere name. We can only guess that it is a type of composite hornbow, whose limbs form a C shape like a crescent moon (early moon- spring moon) in its natural state. The bow in the portrait of the 17th century Duke Vu Cong Chan is one such composite bow, and it might possibly be a “cung sừng trăng xuân”. Another evidence of horn bow during the Restored Le dynasty is the annual levy of markets in the capital, which demands “100 sheets of buffalo hide for making of military uniforms, and there must be 2 horns accompanying each hide” (4). These horns are likely to be turned into bows.

  • (1) Thủy Kinh Chú, dịch giả Nguyễn Bá Mão, NXB Thuận Hóa, tr.418
  • (2) Chỉ Nam Ngọc Âm giải nghĩa, NXB Khoa học Xã hội, 1985, dịch giả: Trần Xuân Ngọc Lan, tr. 184
  • (3) Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam- tập II, Nguyễn Ngọc Nhuận (chủ biên), NXB Khoa học Xã hội, tr.150
  • (4) Ngàn Năm Aó Mũ, Trần Quang Đức 2013, NXB Thế giới, tr. 234