Cung thuật Việt Nam

Cung thuật Việt Nam

/

Không như nhiều nước với truyền thống cung thuật được duy trì cho đến nay, hiện không còn các tài liệu hướng dẫn (võ thư) hay các hình minh họa chuẩn xác về cung thuật Việt Nam để phục dựng lại bộ môn từng được các triều đại hết sức trọng vọng này. Tuy nhiên, từ những hiện vật và những ghi chép tản mác ngắn gọn trong các sử liệu, chúng ta có thể hình dung được phần nào kỹ thuật sử dụng cung của tổ tiên.

(kỵ xạ với cự ly kéo cung lớn, đình Hạ Hiệp - horse archer with long draw, Ha Hiep communal house)

Đại Việt sử ký toàn thư chép lại mô tả của quan Độc bạ Trần Cụ đời Trần về cung thuật thời đó như sau: “Người đời bắn nỏ, chân đứng cũng như bắn cung, tức là kiểu chữ “đinh 丁” không thành, chữ “bát 八” không ngay. Cụ thì đứng ngay ngắn mà bắn và bảo mọi người: “Phàm bắn cung thì tay trái giơ ra phía trước nắm lấy thân cung, tay phải kéo dây cung về phía sau, mình đã nghiêng thì chân cũng phải lệch, còn bắn nỏ thì đưa cân bằng ra phía trước, cho nên khi cầm nỏ mà bắn, thân mình ngay ngắn, thì cớ gì chân lại phải đứng lệch?” (1). Đoạn ghi chép quý báu này hé mở 2 điểm quan trọng. Thứ nhất, về tư thế, thân trên cung thủ thường lệch (không vuông góc cũng không song song với mục tiêu), 2 chân không vuông góc (chữ đinh không thành) mà cũng ko tạo góc 60 độ với 2 chân đối xứng như trong cung đạo Nhật Bản, mà tạo thành chữ bát 八 lệch. Người viết phỏng đoán đó là tư thế đứng với chân trái đưa lên trước (kiểu Anh) hoặc chân phải đưa lên trước (kiểu Mãn Châu). Lợi thế của việc đứng chân lệch như vậy là giúp giữ thăng bằng tốt, đồng thời có thể huy động được cơ lưng, hông và đùi vào việc kéo những cây cung nặng.

(cung đạo Nhật Bản - chân hình chữ Bát ngay ngắn / Japanese kyudo - assymetric legs postion)

(cung thuật Mãn Châu - chân phải đặt phái trước, thân lệch / Manchu archery - oblique feet)

Điểm thứ 2 có thể suy ra từ ghi chép về Độc bạ Trần Cụ, đó là trình tự động tác kéo cung: sau khi cung thủ đã đứng tư thế chuẩn, tay trái (tay cung) sẽ giơ ra phía trước, sau đó tay phải mới kéo dây cung về phía sau. Trình tự như vậy tương đối giống với cách thức cung thủ Mãn Châu và Mông Cổ thế kỷ 19-20 sử dụng. Tuy nhiên đoạn ghi chép này không cho ta biết cung thủ kéo dây về phía sau xa bao nhiêu, cố định dây cung tại điểm nào, và dùng ngón nào để kéo, hay dùng vật dụng gì để bảo vệ ngón tay khi kéo.

Thương gia châu Âu Samuel Baron đã ký họa lại hình ảnh một võ sĩ Lê Trung Hưng thế kỷ 17 đang kéo cung căng đẫy sức (2), với đuôi mũi tên chạm mặt ngay bên dưới má, giống như cách thức cung thủ Olympic hiện đại sử dụng để ngắm chuẩn đích. Các mũi tên thời Lê trung hưng ở bảo tàng Rijksmuseum Amsterdam, thời Nguyễn ở bảo tàng Musee du quai Branly đều có chiều dài từ 75-80cm. Chiều dài này khá ngắn so với chiều cao của binh sĩ Lê Trung Hưng (tối thiểu 4 thước 1 tấc- 164cm, cho đến 4 thước 5 tấc- 180cm tùy đơn vị (3) ). Điều đó cho thấy cung thủ thời đó từng chỉ kéo đến mặt. Tuy nhiên cũng cần lưu ý, hình vẽ của Baron thể hiện một xạ thủ đang tập bắn, và mũi tên ở bảo tàng Rijks đều có đầu bắn tập, do vậy vẫn không thể loại trừ khả năng người thời Lê chỉ sử dụng cự ly kéo ngắn để dễ ngắm khi tập, còn khi không cần đến sự chính xác cao độ (đi săn, chiến trận) mà cần sức xuyên phá, thì cung thủ vẫn kéo dài hơn.

Song song với đó, tranh ký họa của Samuel Baron thể hiện mũi tên đặt bên phải cánh cung trong khi cung thủ sử dụng tay trái để cầm cung. Để mũi tên không rơi ra, nhất là khi sử dụng trên lưng ngựa (kỵ xạ là một kỹ năng cực kỳ quan trọng của binh sĩ cũng như văn thân thời Lê Trung Hưng- như đã nói trong các bài trước của page), khả năng rất cao là cung thủ đã sử dụng cách kéo bằng ngón cái (Mongolian draw), hoặc với ngón giữa và ngón áp út móc dây cung, còn ngón trỏ áp vào thân tên để giữ cho tên khỏi rơi (Slavic draw). Dẫu vậy đó cũng chỉ là phỏng đoán, vì đến nay chưa hề có hình ảnh chi tiết nào, hay một nhẫn ngón cái/ finger tab nào để củng cố cho luận điểm đó. Có lẽ chúng ta chỉ có cách chờ đợi những phát hiện khảo cổ trong thời gian tới để củng cố thêm hiểu biết về cung thuật Việt Nam thời xưa. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là trong việc sử dụng cung tên, có rất nhiều điểm phổ quát cho tất cả các nền văn hóa và chủng tộc, bao gồm cả Việt Nam, bởi con người đâu đâu cũng giống nhau.

  • (1) Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tr.218
  • (2) Views of Seventeenth-Century Vietnam: Christoforo Borri on Cochinchina and Samuel Baron on Tonkin, C. Borri, S. Baron
  • (3) Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam- tập II, Nguyễn Ngọc Nhuận (chủ biên), NXB Khoa học Xã hội, tr.89

Unlike many countries with continuous archery traditions, there is no longer any instructional material or accurate illustration of Vietnamese archery to reconstruct the art that was once highly revered. However, from artifacts and scattered fragments in historical records, we can reimagine, to some degree, the technique of ancient Vietnamese.

Dai Viet Su Ky Toan Thu (Complete Record of Vietnamese history) contains a description of the courtier Tran Cu in Tran’s dynasty: “When one shoots the crossbow, the legs are positioned similarly to archery, i.e. forming not a “đinh 丁” character, and not a neat “bát 八” character. If you shoot the bow, your left hand will be held out in front to hold the bow, your right hand will pull the bowstring back, you will tilt your torso then your legs will also need to be oblique ”(1) . This precious note reveals two important points. In terms of posture, archers’ torso were often oblique, two legs are not perpendicular (as in the “丁” character”), nor do they create an angle of 60 degrees with two legs as symmetrical as in Japanese kyudo, but make up essentially a shape. Our conjecture is that the left leg steps forward (English style) or the right leg up front (Manchu style) . The advantage of this positioning is enhanced balance, at the same time, the back, hips and thighs muscles can be mobilized to pull heavy bows.

The second point can be deduced from the record of Tran Cu is the drawing sequence: after the archer has set up their posture, the left hand (bow hand) will stretch out, then the right hand pulls the bowstring backwards. Such a sequence is relatively similar to the way 19th and 20th century Manchus and Mongols used. However, this note does not tell how far the archer pulls the string back, where to anchor the string, and which hand digits were used to pull the string, or how they were protected.

European merchant Samuel Baron offered a sketch of a 17th-century Le archery in full draw (2), with the knock of the arrow touching the face right below his cheek, like the way modern Olympic archers use to sight the target. The arrows of the Le Trung Hung period in the Rijksmuseum Amsterdam, the Nguyen period in Musee du quai Branly museum are 75-80cm long. This length is quite short compared to the height of Le Trung Hung soldiers (minimum 164cm, to 180cm depending on the unit (3)). That shows that archers of that time used to only draw to the face. It should be noted, however, that Baron’s figure shows a bowman in practice, and that the arrows in the Rijksmuseum have practice heads, thus we cannot yet rule out the possibility that Le people used short draw only to facilitate accurate shooting in practice, while when high precision is not required, rather power and penetration were more important (in hunting and battle), archers still drew further.

In addition, Samuel Baron’s sketch shows the arrow placed to the right of the bow while the archer uses his left hand to hold the bow. Lest the arrow falls off, especially when used on horseback (mounted archery was an extremely important skill of soldiers as well as noble scholars of the Le Trung Hung period), it is highly possible that Vietnamese archers employed thumb draw (Mongolian draw), or with the middle finger and the little finger hooked the bowstring, and the index finger pressed against the arrow shaft to keep it from falling off (Slavic draw). Noted however that it is only an educated guess, since there has never been any detailed image, thumb ring / finger tab found to reinforce that point. Perhaps we just have to wait for archaeological findings in the future to consolidate the knowledge of ancient Vietnamese archery. One thing is certain, though, is that in using bow and arrows, many points are universal across cultures and races, Vietnam included, since we human are all the same.